Database server là gì?

05:20 Chiều - 28/10/2020
0 Bình luận
133
bởi Nam Nguyễn

Database server (máy chủ cơ sở dữ liệu) là một hệ thống máy tính cung cấp cho các máy tính khác những dịch vụ liên quan đến việc truy cập và lấy thông tin từ cơ sở dữ liệu. Quyền truy cập vào database server có thể diễn ra thông qua một front end chạy cục bộ máy của người dùng (ví dụ, phpMyAdmin) hoặc back end chạy trên chính database server, được truy cập bằng remote shell. Sau khi thông tin trong cơ sở dữ liệu được truy xuất, nó sẽ được xuất cho người yêu cầu dữ liệu.

Database server là gì?

Database server là một máy tính trong mạng LAN dành riêng cho việc lưu trữ và truy xuất cơ sở dữ liệu
Database server là một máy tính trong mạng LAN dành riêng cho việc lưu trữ và truy xuất cơ sở dữ liệu

Nó tương tự như kho dữ liệu nơi trang web lưu trữ hoặc duy trì thông tin. Database server là một máy tính trong mạng LAN dành riêng cho việc lưu trữ và truy xuất cơ sở dữ liệu. Database server chứa Database Management System (DBMS) và các cơ sở dữ liệu. Theo yêu cầu từ các máy khách, nó tìm kiếm cơ sở dữ liệu về những bản ghi đã chọn và chuyển chúng trở lại qua mạng.

Database server có thể được định nghĩa là một máy chủ chuyên cung cấp các dịch vụ cơ sở dữ liệu. Một máy chủ như vậy sẽ chạy phần mềm cơ sở dữ liệu. Một database server thường có thể được thấy trong môi trường client-server, nơi nó cung cấp thông tin được hệ thống client tìm kiếm.

Vai trò của database server

Database server rất hữu ích cho các tổ chức có nhiều dữ liệu cần xử lý thường xuyên. Nếu bạn có kiến ​​trúc client-server, trong đó các client cần dữ liệu xử lý quá thường xuyên, tốt hơn là làm việc với database server. Một số tổ chức sử dụng file server để lưu trữ và xử lý dữ liệu. Nhưng database server hiệu quả hơn nhiều so với file server.

Trong mạng cơ sở dữ liệu (Database Network), client thực thi các yêu cầu SQL tới database server. Network Database Server xử lý yêu cầu cơ sở dữ liệu từ client và những câu trả lời đã thực thi của lệnh SQL quay lại qua máy tính trong mạng. Nói tóm lại, database server xử lý yêu cầu hoặc tìm kiếm kết quả được yêu cầu. Database server thỉnh thoảng còn được gọi là công cụ SQL.

Các chức năng cơ sở dữ liệu được quản lý bởi database server
Các chức năng cơ sở dữ liệu được quản lý bởi database server

Tất cả các chức năng cơ sở dữ liệu được điều khiển bởi database server. Bất kỳ loại máy tính nào cũng có thể được sử dụng làm database server, bao gồm cả máy tính siêu nhỏ, máy tính mini hoặc máy tính lớn. Trong các mạng tổ chức lớn, máy tính lớn được sử dụng làm server.

Một số người gọi các chức năng DBMS trung tâm là những chức năng back-end, còn các chương trình ứng dụng trên máy khách là những chương trình front-end. Bạn có thể nói rằng client là ứng dụng, được sử dụng để giao tiếp với DBMS, còn database server là một DBMS.

Database server quản lý các dịch vụ bảo mật khôi phục của DBMS. Nó thực thi các ràng buộc được chỉ định bên trong DBMS, kiểm soát và quản lý tất cả các client được kết nối, đồng thời xử lý tất cả những chức năng kiểm soát và truy cập cơ sở dữ liệu.

Database server cung cấp khả năng kiểm soát truy cập đồng thời, bảo mật tốt hơn và server ẩn DBMS khỏi các client. Nó cung cấp môi trường đa người dùng (nhiều người dùng có thể truy cập cơ sở dữ liệu đồng thời). Tất cả dữ liệu được lưu trữ trên máy chủ dữ liệu, do đó, DBA có thể dễ dàng tạo bản sao lưu của cơ sở dữ liệu.

Một tiêu chuẩn có tên ODBC (Open Database Connectivity) cung cấp một giao diện lập trình ứng dụng (API), cho phép các chương trình phía client gọi DBMS ở phía server. Vì mục đích này, phần mềm cần thiết phải được cài đặt ở cả hai phía (tức là cả client và server). Sau đó, một chương trình client kết nối với database server và gửi yêu cầu (truy vấn) bằng API ODBC. Server xử lý các truy vấn và gửi lại kết quả của các truy vấn đến chương trình client, chương trình này được xử lý bởi máy khách.

Theo: Nguyễn Thu Hà

Nguồn: quantrimang.com

Tags:

*
*

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.

Scroll Top